24/08/2026 17:36 · 20 lượt xem
Ông Trần Xuân Thu sinh ngày 10-06-1933 trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Chánh Lộc, xã Hà Giang, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Năm 12 tuổi anh học lớp Nhì của Trường Quốc học phủ Hà Trung, ông tham gia Đội Thiếu niên Việt Minh, được bầu làm Thư ký của Đội và tham gia khởi nghĩa giành chính quyền phủ Hà Trung. Sau Cách mạng tháng Tám ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 15-04-1950 khi vừa tròn 17 tuổi. Cùng năm đó ông học lớp Đệ Tam và xung phong nhập ngũ. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Trường sỹ quan Lục quân I ngày nay) ông tham gia chiến đấu ở một đơn vị của Đại đoàn 316, chiến đấu ở vùng sau lưng địch ở Bắc Giang, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc. Cuối năm 1952 ông đã được cử đi học phi công nhưng do mắt kém nên không đủ tiêu chuẩn học tập. Ông trở về công tác tại Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu, làm công tác tham mưu điện và tham gia chiến đấu ở các chiến dịch Thượng Lào và Điện Biên Phủ. Năm 1960 ông được cử đi đào tạo tại Học viện Phòng hóa Mat-xcơ-va Liên Xô. Sau 4 năm học tập anh về công tác tại Ban Kỹ thuật Hóa nghiệm, Cục Hóa học thuộc Bộ Tổng Tham mưu, thời gian này ông tham gia giảng dạy chuyên ngành cho sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ 1967 đến 1971 ông làm Nghiên cứu sinh kỹ thuật tại Học viện Phòng hóa và Viện Hóa lý, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Chính trị viên Đoàn học viên nghiên cứu sinh. Về nước ông được bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng, sau đó là Trưởng phòng Phòng nghiên cứu Kỹ thuật của Cục Hóa học với quân hàm Thiếu tá. Trong thời gian này ông làm Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu chế tạo mặt nạ Việt Nam, trong đó quan trọng nhất là điều chế than hoạt tính từ nguyên liệu trong nước, Nhóm nghiên cứu do ông đứng đầu đã chế tạo được hàng vạn chiếc khẩu trang phòng chống một số loại chất độc kích thích gửi đi chiến trường cho bộ đội. Ông đã xây dựng được lò than hoạt hóa tẩm xúc tác để chế tạo hộp lọc quân sự .Tôi không nghĩ rằng năm 1975 sau khi lập gia đình chúng tôi lại ra ở khu tập thể gia đình cán bộ ở ngay phía ngoài cổng A của khu 50B. Nhà tôi ở sát vách nhà ông, trong khi chúng tôi còn son rỗi thì ông đã đưa gia đình lên đây từ sớm.
Ông Trần Xuân Thu kết hôn với bà Lê Thị Nội sinh năm 1942 người làng Bái Đô, xã Hà Tân, là Công nhân viên quốc phòng Binh chủng Hóa học; ông bà sinh được các con: Trần Thị Thanh Hà, Trần Xuân Nam, Trần Thị Hoa, Trần Thị Kim Cúc, Trần Duy Đông.
Trong khi tôi công tác ở Đà Lạt thì Viện hóa học quân sự được thành lập (ngày 21-09-1976), Thiếu tá Trần Xuân Thu được giao nhiệm vụ là Viện trưởng đầu tiên, sau đó một thời gian được Bộ Quốc phòng bổ nhiệm chức danh Viện trưởng. Trung tá Trần Kỳ Doanh đã lên công tác tại Cơ quan Bộ Tư lệnh, sau đó một thời gian ông chuyển ra ngoài quân đội và về công tác tại thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ vợ là bà Nguyễn Thị Cúc điều hành hoạt động Hợp tác xã Mây tre lá Ba Nhất, ông thường đi cùng bà đưa hàng hóa ra Hội trợ Triển lãm Nông nghiệp tại Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp tại 489 Hoàng Quốc Việt; Sau này ông bà còn lập được trang trại lớn ở Bình Dương.
Ở khu gia đình, tôi nhận thấy điều đặc biệt ở ông, đó là việc nước, việc nhà đều vẹn toàn: Nếu như ở nơi làm việc ông trăn trở cho các nhiệm vụ của đơn vị bao nhiêu thì khi về nhà ông đã giành hết thời gian cho vợ, con bấy nhiêu. Ông quan tâm sắp xếp công việc cho bà Lê Thị Nội là người phụ nữ ở quê, mới chuyển ra Hà Nội rồi cả gia đình lên đây vừa lo việc nhà, vừa giữ trẻ cho cả khu vực. Đối với các con, ông chăm lo việc học hành của các cháu rất cụ thể. Mỗi buổi tối ông thường xuyên kiểm tra, bổ túc việc học hành cho từng cháu một.
Đến năm 1979 thật bất ngờ tôi được cử vào một Tổ công tác đặc biệt vào công tác tại Quân cảng Cam Ranh. Thực chất nhiệm vụ của chúng tôi là xác định xem các tàu ngầm hạt nhân của Liên Xô ra vào cảng có gây ô nhiễm phóng xạ Quân cảng hay không. Nhờ sự cộng tác của Phòng Sinh thái học phóng xạ, Phân viện Nghiên cứu biển ở Nha Trang, chúng tôi được biết Tảo biển (Rong biển), mà cụ thể là các loại Tảo Nâu có khả năng hấp thu rất cao các đồng vị phóng xạ trong nước biển. Chúng tôi thực hiện kiểm tra hàng ngày trên các loại Tảo Nâu có nhiều ở Cửa Hẹp của Vịnh; Kết quả cho thấy có đã có sự tăng nhẹ hoạt độ rất thấp trong vài ngày, kết hợp với tìm hiểu tài liệu chúng tôi đã khẳng định tầu ngầm hạt nhân không gây nhiễm xạ khi cập cảng và lưu trú ở đây.
Khi về Viện, nghe tôi báo cáo, ông Trần Xuân Thu bảo ngay: Hướng này có thể làm được Luận án sau Đại học đấy, ông thực sự khá tinh tường, đã thấy ngay lợi ích của phương pháp này mà người ta gọi chung là phương pháp dùng chỉ thị sinh học phát hiện nhiễm xạ môi trường (cho đến bây giờ, Tảo Nâu vẫn được sử dụng làm chỉ thị phát hiện nồng độ nhiễm xạ rất thấp của môi trường biển). Ông được bổ nhiệm chức danh Phó Giáo sư từ năm 1981.
Bước sang năm 1981, Phân viện Phòng nguyên tử tiên phong về An Khánh ở tạm tại Đình Vân Lũng để góp phần thúc đẩy công trình 75714 (xây dựng trụ sở của Viện) sớm hoàn thành. Về An Khánh được mấy tháng thì tôi lại được giao làm Tổ trưởng tổ sản xuất vật liệu xây dựng (làm gạch ở Cổ Nhuế), với mục đích ban đầu là để xây dựng một cơ sở nghiên cứu mới; Hồi đó đời sống của bộ đội, nhân dân khó khăn nên có chủ trương các đơn vị quân đội tham gia làm kinh tế. Công việc sản xuất gạch tiến triển rất tốt, thực sự có lãi “một vốn bốn lời”. Tôi còn được giao nhiệm vụ hỗ trợ xây dựng nhà cấp 4 với 10 gian ở cuối khu đất trên đê Sông Nhuệ; Gia đình ông Trần Xuân Thu chuyển về ở tại đây, được phân một gian rưỡi, gia đình ông ở đây rất lâu, các cháu được học những trường tốt ở Hà Nội. Mãi tới năm năm 1994 ông mới chuyển về nhà hai tầng ở số 21 Ngõ 187, Tập thể Quân Đội Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội do Quân đội xây dựng.
Viện hóa học quân sự khi đó đang Chủ trì một đề tài cấp Nhà nước thuộc Chương trình 52.02 do Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đình Tứ làm chủ nhiệm. Đề tài có tên: Nghiên cứu nhiễm xạ môi trường không khí tại các khu công nghiệp đông dân cư và đề xuất kỹ thuật công nghệ phòng chống. Thực hiện trong giai đoạn 1981-1985. Mã số 52.02.06.01. Giữa năm 1984 ông Trần Xuân Thu ký Quyết định giao tôi là Phân viện trưởng, làm Chủ nhiệm đề tài 52.02.06.01 và anh Nguyễn Văn Phóng làm Phó Chủ nhiệm đề tài.
Sản phẩm chủ yếu là thiết bị lấy mẫu xol khí lưu lượng 5.500m3/h với giấy lọc FPP-111 (giấy lọc amiăng- xenlulô có trở lực lớn hơn nhiều so với loại giấy lọc xol khí chuyên dụng). Thiết bị được đặt tên là BK-I (Bụi Khí I). Cần nói rằng đây là thiết bị đầu tiên của cả nước, đã lấy mẫu đầu tiên 100.000m3 và đo được phổ phông phóng xạ đầu tiên của không khí gần mặt đất có ý nghĩa lịch sử; Bởi vì lúc này tất cả các cơ sở có ý định nghiên cứu phóng xạ trong bụi khí gần mặt đất không có hệ thống lấy mẫu đủ để đo được phổ các đồng vị phóng xạ. Tôi nhớ những người chủ chốt tham gia thực hiện đều đã được ghi đầy đủ trong Báo cáo Khoa học tổng kết toàn diện Đề tài. Tháng 12/1985 đề tài đã được nghiệm thu cấp Cơ sở đạt mức Khá và sau này được Thông báo khoa học tại Viện liên hợp nghiên cứu hạt nhân Đubna.
Từ 6-1982 đến 7-1987 ông làm Chủ nhiệm Kỹ thuật Binh chủng Hóa học. Từ 8-1987 đến tháng 1-1988 là Phó Tư lệnh Binh chủng Hóa học, ông Trần Xuân Thu đã tư vấn Bộ Quốc phòng mở Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước 66A do Bộ quốc phòng chủ trì. Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Nguyễn Thế Bôn làm chủ nhiệm Chương trình và ông Trần Xuân Thu là Thư ký. Chương trình này chủ yếu phục vụ cho Binh chủng Hóa học mà cụ thể là Viện hóa học quân sự thực hiện với nhiều đề tài do cán bộ các Phân viện chủ trì. Đây là công lao, dấu ấn lớn nhất của ông, góp phần quan trọng nâng cao vị thế của Viện hóa học quân sự. Phân viện Phòng nguyên tử chủ trì đề tài: Nghiên cứu Quy trình kỹ thuật và trang bị quan sát báo động hạt nhân, kết hợp lập nền phông phóng xạ ở một số khu vực trọng điểm. Mã số 66A.01.04. Giai đoạn 1986-1990. Đề tài đã thực hiện thành công, góp phần thành lập Trạm quan trắc phóng xạ Quốc gia đầu tiên đặt tại Trung tâm công nghệ xử lý môi trường (tên đối ngoại của Viện hóa học quân sự) theo Quyết định số 1428-QĐ-MTg, ngày 28/11/1994, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Việc mở Chương trình 66A đã góp phần đáng kể nâng cao đáng kể vị thế của Viện hóa học quân sự.
Đầu năm 1990 tôi được cử sang làm Cộng tác viên khoa học tại Viện Liên hợp nghiên cứu hạt nhân Đubna; ông Trần Xuân Thu đã được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc đầu tiên của Trung tâm Nhiệt đới Việt-Xô (sau này là Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga). Ông là người ký chữ ký cuối cùng trên cương vị Phó Tư lệnh Hóa học giới thiệu tôi sang Viện khoa học Việt Nam để làm thủ tục đi làm việc ở Đubna. Ông đã được bổ nhiệm Tổng Giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt-Xô ngay từ khi Trung tâm được thành lập, ngày 7-3-1988 nhưng đến đầu năm 1990 mới bàn giao xong mọi công việc ở BTL Hóa học.
Thời gian đầu Trung tâm gặp muôn vàn khó khăn về mọi mặt, nhất là khi Liên Xô tan rã. Lúc này ông đã thực sự phát huy phẩm chất của người cán bộ đã kinh qua nhiều thử thách trong sự nghiệp từ thời Tiền khởi nghĩa. Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga tiếp tục phát triển với nhiều thành tựu lớn trên 3 mặt: Độ bền nhiệt đới; Sinh thái nhiệt đới và Y sinh nhiệt đới; Trên cơ sở đó có đóng góp lớn cho việc kéo dài tuổi thọ của vũ khí, trang bị kỹ thuật, phòng chữa bệnh và phát triển hệ sinh thái bền vững.
Khi tôi làm việc ở Đubna ông Trần Xuân Thu thường hay sang họp Ủy ban Phối hợp liên Chính phủ về Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga. Tôi và ông cũng gặp nhau mấy lần để hỗ trợ nhau về công việc và đời sống. Trong hai công bố khoa học ở Đubna có tên ông Trần Xuân Thu và ông Vũ Hoài Tuân là những người đã tham gia chỉ đạo trực tiếp cho hai đề tài trước đây. Tôi đã công bố thêm hai công trình khác làm cơ sở để bảo vệ thành công Luận án Phó tiến sỹ theo chế độ ngắn hạn ngày 26-09-1996, tại Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Từ khi gia đình về ở Cổ Nhuế ông có điều kiện cho con cái học hành, các cháu đều trưởng thành, đây là một dấu ấn lớn nữa đối với ông, tôi thầm nghĩ như vậy. Các con của ông đều thành đạt: Chị cả Trần Thị Thanh Hà sinh 10-1965, tốt nghiệp Trung cấp Thông tin, hàm Trung tá Quân nhân chuyên nghiệp, chồng là Bạch Quốc Huy sinh năm 1963, tốt nghiệp Trường Sỹ quan Phòng hóa và Đại học Tài chính, là Đại tá, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga, quê ở xã Lam Hạ, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Trần Xuân Nam sinh 9-1971, tốt nghiệp Thủ khoa chuyên ngành Thông tin tại Học viện Kỹ thuật quân sự, Thạc sĩ tại Đại học Công nghệ Sydney (Úc), Tiến sĩ tại trường Đại học Điện-Truyền thông (Nhật Bản), hiện là GS.TS. Thiếu tướng Phó Giám đốc Học viện Kỹ thuật Quân sự, vợ là Nguyễn Thanh Huyền sinh năm 1977 người quê ở xã Phú Mỹ, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, tốt nghiệp Trường Đại học Luật, là Tổng Quản lý Công ty TNHH Hoya Glass Disk (Nhật Bản). Trần Thị Hoa sinh tháng 10-1974, tốt nghiệp Trường Đại học Thương mại, công tác tại Công ty TNHH Một thành viên Vắc xin và Sinh phẩm số 1, kết hôn với ông Nguyễn Bảo Vinh, sinh năm 1973, quê ở xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, Nghệ An, tốt nghiệp Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, là Chủ tịch Công ty TNHH dược phẩm An Vượng. Trần Thị Kim Cúc sinh tháng 12-1976, tốt nghiệp Trường Đại học Tài chính, công tác tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, kết hôn với ông Nguyễn Hữu Long sinh năm 1976, quê ở Thanh Chương, Nghệ An, tốt nghiệp Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, là Giám đốc Công ty TNHH phát triển và công nghệ Gia Long. TS. Trần Duy Đông sinh tháng 4-1979, tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Thạc sĩ tại Đại học Hitotsubashi (Nhật Bản), Tiến sĩ tại Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, nguyên là Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ, kết hôn với bà Nguyễn Thúy Linh, sinh năm 1980, quê ở phường Yên Hoà, Quận Cầu Giấy, Hà Nội, tốt nghiệp Trường Đại học Thăng Long, là Trung tá- Kế toán trưởng- Tổng Công Ty Giải pháp Doanh nghiệp- Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel.
Ở 50B ông đã đón Bà Ngoại lên ở cùng gia đình, Cụ tuy tuổi cao nhưng vẫn khỏe và minh mẫn, khi tôi đi công tác, đôi khi cháu đầu lòng mới sinh khóc nhiều, Cụ thường sang giúp vợ tôi bế cháu. Ông còn có hai cháu con bà chị gái là Trần Họa My và Trần Trọng Thụ. Bố mẹ cháu đều mất năm 1966 do bị bom của Mỹ ở gần cầu Hàm Rồng, có hai anh trai là Trần Văn Quỹ hy sinh tại chiến trường Lộc Ninh, Tây ninh năm 1973, anh Trần Văn Thanh là Thương binh. Ông đã đưa cháu Trần Họa My ra học lớp Trung cấp Hóa chất ở Trường sỹ quan Phòng hóa, sau này cháu xuất ngũ về công tác tại Sở Tài chính Vĩnh Phúc; Cháu thường ra khu gia đình giúp Cậu, Mợ; thỉnh thoảng còn đưa các em con bác Trần Xuân Thu và con chúng tôi đi xem phim ở trong sân sát cổng ra vào, em trai cháu là Trần Văn Thụ nhập ngũ năm 1983, đã công tác tại Chi nhánh Phía Nam của Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga, hiện cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh. Được sự quan tâm chu đáo của ông, các cháu đều có đời sống ổn định.
Từ 2-1988 đến tháng 9-2002 ông Trần Xuân Thu làm Tổng giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt-Xô, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng tháng 6-1992, ông nghỉ hưu tháng 10-2002. Ông tiếp tục làm Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt-Nga từ năm 2000 đến năm 2012. Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam từ 12-2003 đến 12-2013.
Ông Trần Xuân Thu được tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Quân công hạng Nhì; Huân chương Chiến công hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhì; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Ba; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Liên bang Nga; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy chương Vì sự nghiệp khoa học-công nghệ; Huy chương Vì sự nghiệp kiểm tra Đảng; Huy chương Vì sự nghiệp tư tưởng văn hóa; Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ; Huy chương Vì sự nghiệp dân vận; Huy chương Vì sự nghiệp dân số, gia đình và trẻ em; Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Ông mất ngày 21-8-2021 tức ngày 14-7 Tân Sửu, phần Mộ đặt tại Nghĩa trang Lạc Hồng Viên, tỉnh Hoà Bình, hưởng thọ 89 tuổi, để lại sự nghiệp đáng trân trọng, cùng với các con đều thành đạt trên các cương vị khác nhau.